Powered by Drupal, an open source content management system

Những bài viết về Xã Hội Dân Sự của GS Nguyễn Hưng Quốc:

Những bài viết về Xã Hội Dân Sự của GS Nguyễn Hưng Quốc

-- Xã hội dân sự và Dân chủ:
http://www.voatiengviet.com/content/xa-hoi-dan-su-va-dan-chu/1760886.html
-- Internet và Xã Hội dân sự:
http://www.voatiengviet.com/content/internet-va-xa-hoi-dan-su/1757929.html
-- Tiến tới một định nghĩa khác về Xã Hội Dân Sự:
http://www.voatiengviet.com/content/tien-toi-mot-dinh-nghia-khac-ve-xa-hoi-dan-su/1608314.html
-- Xã Hội Dân Sự và Mạng Lưới Truyền Thông:
http://www.voatiengviet.com/content/xa-hoi-dan-su-va-mang-luoi-truyen-thong/1603802.html
-- Xã Hội Dân Sự từ bên trong:
http://www.voatiengviet.com/content/xa-hoi-dan-su-tu-ben-trong/1598604.html
--Xã hội dân sự tại Việt Nam: Theo quan điểm của Gramsci:
http://www.voatiengviet.com/content/xa-hoi-dan-su-vietnam-theo-quan-diem-gramsci/1596313.html
-- Xã Hội Dân Sự như một tiến trình dân chủ hóa:
http://www.voatiengviet.com/content/xa-hoi-dan-su-nhu-mot-tien-trinh-dan-chu-hoa/1588023.html
-- Xã Hội Dân Sự như một khu vực thứ ba:
http://www.voatiengviet.com/content/xa-hoi-dan-su-nhu-mot-khu-vuc-thu-ba/1586029.html
-- Cộng đồng mạnh như một Xã Hội Dân Sự
http://www.voanews.com/vietnamese/blogs/quoc/cong-dong-mang-nhu-mot-xa-hoi-dan-su-09-05-2012-150777145.html

Chương Trình Tập Huấn và Hội Luận Trực Tuyến 2014

Chương Trình Tập Huấn và Hội Luận Trực Tuyến 2014

Chủ Đề I: Chuyển Hóa Dân Chủ
1. Tầm Nhìn Việt Nam trong bối cảnh thế giới toàn cầu
2. Lộ Trình và Sách Lược Chuyển Hóa Dân Chủ Tại Việt Nam
3. Phát Triển Kinh Tế và Dân Chủ Hóa
4. Khái Quát về Dân Chủ và Nhân Quyền

Chủ Đề II: Những Bài Học Lịch Sử
5. Ý thức Dân Tộc Việt hình thành như thế nào?
6. Những bài học lịch sự Việt Nam cận đại

Chủ Đề III: Xã Hội Dân Sự và Phong Trào Xã Hội
7. Giới Thiệu Xã Hội Dân Sự
8. Ba Khía Cạnh của Dân Chủ và Xã Hội Dân Sự:
8.1. Công bằng xã hội
8.2. Pháp Trị (Pháp quyền)
8.3 Xã hội dân sự và Dân chủ
9. Phong Trào Xã Hội

Chủ Đề IV: Kỹ Năng Hoạt Động
10. Xây dựng và phát triển phong trào xã hội tại Việt Nam: hội luận
11. Lãnh đạo và Tổ chức
12. Kỹ năng lý luận và phản biện
13. Anh toàn vi tính
14. Bảo toàn hoạt động
15. Trao đổi kinh nghiệm hoạt động: Hội luận

An Toàn Vi Tính

HHDC xin giới thiệu với các bạn những tài liệu tham khảo cho chủ đề An Toàn Vi Tính

https://www.box.com/s/749fhkham6nfzregx6d7

Dân chủ và phát triển: Lý thuyết và chứng cớ

Từ cuộc Cách mạng Công nghiệp cuối thế kỷ 18 đến nay, thế giới đã chứng kiến hai sự kiện chưa từng có trong lịch sử: Một là sự tăng vọt mức sống của con người (nói gọn là phát trỉển kinh tế), và hai là ngày càng nhiều quốc gia trở thành dân chủ. Tuy hai làn sóng này xảy ra không đồng đều mọi nơi, và thường gián đoạn, có lúc giật lùi, không thể không nghi ngờ rằng chúng có liên hệ ít nhiều với nhau. Liên hệ ấy, và nói chung là liên hệ giữa phát triển kinh tế và thể chế chính trị, không những là quan tâm của những người hoạt động chính trị mà còn là một chủ đề học thuật hàng đầu. Trong lịch sử trí thức cận đại, có thể xem nó như "hậu thân" của cuộc tranh biện giữa "kế hoạch" và "thị trường", và xa hơn nữa là giữa tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa.

Bốn Thế Hệ Người Việt: Thái Ðộ Ủng Hộ Nhà Nước Dân Chủ và Kinh Tế Thị Trường

Theo thống kê năm 1999, hơn 50% dân Việt Nam được sinh ra sau 1975. Hơn một phần tư thế kỷ kể từ khi chiến tranh tại Việt Nam kết thúc, một thế hệ mới người Việt đã ra đời. Nghiên cứu này xử dụng số liệu từ cuộc Ðiều tra Giá trị Thế giới 2001 tại Việt Nam để tìm hiểu những sự khác biệt và tương đồng về quan điểm giữa các thế hệ đối với nền kinh tế thị trường và nhà nước dân chủ.

Mặc dù là một nước nông nghiệp, cấu trúc xã hội Việt Nam luôn luôn thay đổi tùy theo các chế độ kinh tế và chính trị. Các chế độ này luôn gắn liền với một lịch sử gồm những cuộc chiến chống ngoại xâm để dựng nước và giữ nước. Riêng lịch sử cận đại Việt Nam có thể đại cương chia làm 4 giai đoạn với 4 thế hệ con người Việt Nam: giai đoạn thuộc địa, chiến tranh phân chia đất nước, xã hội chủ nghĩa sau chiến tranh, và giai đoạn đổi mới.

DÂN CHỦ HOÁ TRONG TIẾN TRÌNH HIỆN ĐẠI HOÁ Ở CÁC XÃ HỘI ĐÔNG Á

Vào thời điểm hiện nay, sau hơn 30 năm cải cách - mở cửa, nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đã bước đầu hiện thực hoá khát vọng trở lại vị trí là một siêu cường trong thế giới đa - nhưng không quá nhiều - cực. Rất nhiều những chỉ số trên nhiều bình diện đã chứng tỏ một cách hùng hồn rằng Trung Quốc thời điểm này thực sự đã có khả năng chi phối thế giới và khu vực. Nhưng cũng không ít học giả, từ nhiều góc nhìn khác nhau, vẫn bày tỏ sự nghi ngờ sâu sắc tính bền vững của mô hình và cách thức phát triển, cả quỹ đạo phát triển nữa, của siêu cường mới tỉnh dậy này. Một câu hỏi lớn tiếp tục vang lên mà chưa thấy nhiều những lời đáp khẳng định, đó là đa số cư dân Trung Quốc đã thực sự có hạnh phúc hay chưa, và với tư cách một cộng đồng cư dân, đó có phải là một cộng đồng hạnh phúc hay không. Ít lời đáp theo chiều khẳng định, bởi dân chủ chính là vấn đề trước hết của đa số, hạnh phúc là tiêu chí nhân sinh hàng đầu của mỗi và mọi cá nhân.

Viễn ảnh Dân chủ Việt Nam

Tiến trình Việt Nam hội nhập thế giới đã xẩy ra dễ dàng và nhanh chóng hơn sự chuẩn bị của giới đương quyền cộng sản, nên mặc dù có được nhiều thuận lợi trong đối ngoại, họ lại đang phải đối diện với những vấn đề đối nội ngày một thêm nghiêm trọng, nẩy sinh từ sự mâu thuẫn giữa chính sách mở cửa đối thoại với Mỹ và quốc tế nhưng lại "đóng cửa" và đàn áp với chính người dân trong nước.

Chính sách bất quân bình giữa đối ngoại và đối nội này không những không giúp phát huy được nội lực dân tộc, dù chính quyền rất muốn, mà còn gây trở ngại cho cả việc tận dụng những cơ hội phát triển do quốc tế sẵn sàng đem lại cho Việt Nam.

Nhưng tình trạng bất quân bình này lại tạo kết quả tích cực cho tiến trình chuyển hóa dân chủ.

Người dân phải, và có điều kiện, tự tìm mọi cách để vận dụng cơ hội "mở cửa", và từ đó, nhanh chóng tự vươn lên.

Có "Hậu Chủ nghĩa xã hội" chăng?

Ngay sau sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản, vốn dĩ là cơ hội hiện thực nhất để chủ nghĩa xã hội thử nghiệm quyền lực toàn diện, chủ nghĩa xã hội cũng phải im hơi lặng tiếng, nhưng chỉ trong chốc lát.

Tuy nhiên, những nguyên cớ dẫn đến chủ nghĩa xã hội ở Tây phương vẫn còn mãi với chúng ta, đó là sản phẩm của sự hội tụ hai thành tựu xuất sắc: một hệ thống kinh doanh tự do cởi mở và một thể chế chính trị dân chủ. Thành tựu thứ nhất tạo ra của cải vật chất làm thay đổi hoàn toàn những giới hạn của con người, nhưng đồng thời cũng làm nảy sinh tính ghen tỵ đặc biệt sâu sắc.

Thành tựu thứ hai thì lại tạo ra cho những người có tham vọng một con đường để đạt được quyền lực, dưới hình thức kêu gọi nhà nước dân chủ phải nhân danh công bằng xã hội mà thâu tóm và tái phân phối của cải.

Giới hạn của chiến lược cải tổ ở Việt Nam

Trong những năm gần đây, Việt Nam đạt tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, đặc biệt sau khi ký hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ và Mỹ trao quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR).

Mặc dù kinh tế nở rộ, nhưng tiến trình phát triển kinh tế không đồng đều. Tất cả người dân đều được hưởng ít nhiều từ tỉ lệ tăng trưởng, nhưng ngày càng có khoảng cách giữa đô thị và nông thôn, người giàu và người nghèo, người có quyền và người không quyền.

Đảng Cộng sản có thể chỉ ra vài thành công hạn chế của chống tham nhũng, nhưng để chống tham nhũng thì cần những thay đổi sâu rộng về trách nhiệm giải trình của viên chức, sự minh bạch trong quyết định của chính phủ - đều là những điều mà Đảng không thể hoặc không muốn làm.

Việt Nam xếp thứ 145 về dân chủ

Việt Nam xếp thứ 145 trong tổng số 167 quốc gia, và bị xem là thuộc dạng chính thể chuyên chế, trong một bảng xếp hạng mới về các nền dân chủ.

Bất đồng chính kiến Việt Nam- Ly khai từ bên trên và Đối lập từ bên dưới

Bất đồng chính kiến, hiểu theo nghĩa chung nhất, là những người bày tỏ chính kiến đối lập với trật tự chính trị hiện thời. Trong bài này, thuật ngữ bất đồng chính kiến được hiểu là bất đồng chính kiến về chính trị trong các chế độ chuyên chế. Bất đồng chính kiến thường sử dụng biện pháp đấu tranh bất bạo động như chỉ trích, lên án chế độ công khai, các phong trào viết kháng thư, bãi công, biểu tình hòa bình... Các nhà bất đồng chính kiến không nhất thiết là những người muốn thay đổi chế độ, và không phải những nhà cách mạng sử dụng bạo lực để cướp chính quyền.

Bảy hạn chế lớn của bất đồng chính kiến ở Việt Nam

Một điểm dễ nhận thấy là các nhà bất đồng chính kiến ở Việt Nam chưa bao giờ được dân chúng coi là các biểu tượng cho đạo đức và lương tri dân tộc. Dĩ nhiên họ cũng có một số cảm tình viên từ các tầng lớp xã hội, nhưng hào quang của họ không vượt ra ngoài những vòng gia đình và bè bạn và những người đã biết về họ khá rõ. Một phần lớn những người ít biết về các nhà bất đồng chính kiến này khi nghe nói đến các hành động/quan điểm của họ thì hoặc cho họ là những người gàn dở bất đắc chí, hoặc ít nhiều nghi kỵ về động cơ của các nhà bất đồng chính kiến khi họ chọn cho mình con đường đối lập trực diện với hệ thống. Vì thế, ở mức độ nào đó, họ bị cô lập khỏi xã hội và không được các thành phần xã hội khác như sinh viên, trí thức, công nhân và nông dân ủng hộ.

Lịch sử không gian công ở Việt Nam từ đầu thế kỉ 20 đến giữa thập kỷ 90

Trong mọi xã hội, đời sống tinh thần cá nhân bao gồm hai mảng là đời sống riêng tư (cá nhân) và đời sống công cộng (xã hội). Mỗi mảng đời sống này tồn tại trong một dung môi được các học giả phương Tây gọi là sphere (không gian). Không gian tư (private sphere) là dung môi cho đời sống riêng tư như gia đình, công sở, các nhóm bạn nhậu, các câu lạc bộ thể thao, khiêu vũ v.v. Không gian công (public sphere) là dung môi cho đời sống công cộng của cá nhân.

Hướng tới củng cố dân chủ

Trong làn sóng dân chủ hoá toàn cầu lần thứ ba này, không hiện tượng nào thu hút trí tưởng tượng của các học giả, nhà quan sát và các nhà hoạt động hơn là "xã hội dân sự". Liệu còn gì gây xúc động hơn là những nhóm sinh viên, nhà văn, nghệ sĩ, linh mục, giáo viên, công nhân và các bà mẹ dũng cảm dám thách thức sự lập lờ, tham nhũng và ách thống trị bạo tàn của các nhà nước độc tài? Liệu có bất kì một biểu tượng nào gợi hứng cho những nhà dân chủ hơn là cái ta đã chứng kiến ở Manila năm 1986, khi hàng trăm ngàn công dân được tổ chức lại, tràn ngập các đường phố để đòi lại cuộc bầu cử bị đánh cắp và buộc Ferninand Marcos rời ngôi vị qua "quyền lực nhân dân" không bạo động?

XÃ HỘI CÔNG DÂN là nền tảng của chế độ dân chủ

Xã hội công dân là khái niệm được nhiều triết gia nêu lên từ thế kỷ 18 nhưng trước đây không được chú ý ở Việt Nam, vì giới trí thức nước ta chịu ảnh hưởng của các tư trào từ nước Pháp truyền qua, trong đó khi bàn đến việc xây dựng chế độ dân chủ thì người ta chú trọng đến các biện luận triết học và các định chế pháp lý hơn là những chuyển biến xã hội qua các giai đoạn lịch sử, các chuyển biến khiến loài người tập sống theo những định chế dân chủ, mà trong truyền thống tiếng Anh và tiếng Đức người ta chú ý tới hơn. Ngay danh từ Xã hội Công dân để dịch từ Civil Society cũng chưa được dùng thống nhất, nhiều người dịch là Xã hội Dân sự. Cách dịch thứ hai này có thể sát với ý tưởng giới dân sự phân biệt với quân sự, nhưng không thích hợp với thời nay, khi nhà nước không hoàn toàn do giới quân nhân nắm giữ. Ngày nay, guồng máy nhà nước thường do giới dân sự nắm và họ chỉ cần nắm quyền đặt ra luật và thi hành luật là đủ kiểm soát đời sống của các công dân rồi.

Syndicate content